4 thời kỳ ung thư cổ tử cung chị em nên hiểu thật chi tiết

Có 4 thời kỳ ung thư cổ tử cung, thời kỳ càng cao tình trạng càng nghiêm trọng và tiên số lượng sống sau 5 năm càng thấp. 

giai đoạn ung thư cổ tử cung

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2020 đã từng có tầm 604 000 ca mắc mới và 342 000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung. tầm 90% trong số này xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (1). tất cả các trường hợp tử vong là do phát hiện muộn, khi căn bệnh tiến xa di căn hạch và di căn xa tới các cơ quan, đã từng xâm lấn vào các hạch bạch huyết và các cơ quan trong cơ thể. Do đó, hiểu biết về các thời kỳ ung thư cổ tử cung có thể giúp cho ích cho phụ nữ mắc căn bệnh này trong việc sắp tinh thần, tuân thủ điều trị nhằm tăng tỷ lệ trị khỏi hoặc tăng tỷ lệ sống sau 5 năm.

Ung thư cổ tử cung là như nào?

Ung thư cổ tử cung là một căn bệnh lý ác tính phát sinh từ các tế bào của cổ tử cung (phần dưới của tử cung kết nối với bộ phận sinh dục nữ).

Virus HPV – virus gây nên u nhú lây truyền truyền qua đường TD ở người đã từng được chứng minh có mối mối quan hệ với UTCTC đặc biệt các chủng nguy cơ cao như HPV 16, HPV 18,… Khi phơi nhiễm với HPV, thông thường hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ ngăn chặn virus gây nên căn bệnh. Tuy nhiên, virus có thể tồn tại nhiều năm trong cơ thể người nhiễm và góp phần sinh căn bệnh UTCTC.

ung thư cổ tử cung có mấy giai đoạn

Có 342 000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung năm 2020 theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

Các thời kỳ ung thư cổ tử cung

thời kỳ ung thư mô tả tình trạng lan rộng của ung thư trong cơ thể. Nó giúp cho xác định tình trạng nghiêm trọng của căn bệnh và giúp cho bác sĩ lựa chọn lựa phương pháp điều trị tốt nhất. 

Vậy, ung thư cổ tử cung có mấy thời kỳ? Ung thư cổ tử cung được chia thành 4 thời kỳ theo thứ tự từ I (1) tới IV (4). (2)

Theo quy luật, con số thời kỳ càng thấp thì căn bệnh ung thư càng ít di căn. Ở thời kỳ cao hơn, ví dụ như thời kỳ IV, tức là một căn bệnh ung thư tiến triển hơn. Các người mắc căn bệnh ung thư có cùng chẩn đoán thời kỳ thường có tiên số lượng và điều trị tượng tự.

các chuyên gia sử dụng các xét nghiệm chẩn đoán và thăm khám sức khỏe để tìm ra thời kỳ ung thư, do đó, việc phân thời kỳ có thể không hoàn tất cho tới khi tất cả các xét nghiệm kết thúc. Việc hiểu được thời kỳ sẽ giúp cho bác sĩ đề xuất phương pháp điều trị tốt nhất và có thể giúp cho dự đoán tiên số lượng của người mắc căn bệnh, đó là môi trường phục hồi. 

UTCTC thường được phân thời kỳ theo hệ thống phân thời kỳ của Liên Đoàn Sản phụ khoa Quốc tế (viết tắt là FIGO). 

Ung thư cổ tử cung thời kỳ I

Ung thư lan từ niêm mạc cổ tử cung vào mô sâu hơn của tử cung và chưa xâm lấn các cơ quan không không khác.

thời kỳ IA

UT được chẩn đoán bằng xét nghiệm tế bào học và mô căn bệnh học. Dựa trên phản hồi hình ảnh học chia thành IA1 và IA2: 

  • thời kỳ IA1: Có một vùng ung thư sâu dưới 3mm.
  • thời kỳ IA2: Có một vùng ung thư có độ sâu từ 3mm tới dưới 5mm.

thời kỳ IB

Trong thời kỳ này, u bướu lớn hơn tuy vậy vẫn chỉ giới hạn ở cổ tử cung; không có sự lây truyền lan xa.

  • thời kỳ IB1: u bướu có chiều sâu từ 5mm trở lên và chiều rộng dưới 2cm. 
  • thời kỳ IB2: u bướu có chiều sâu từ 5 mm trở lên và rộng từ 2 tới 4cm.
  • thời kỳ IB3: u bướu có chiều rộng từ 4cm trở lên.

Ung thư cổ tử cung thời kỳ II

Ung thư đã từng lan ra ngoài tử cung tới các khu vực lân cận như bộ phận sinh dục nữ hoặc mô gần cổ tử cung, tuy vậy vẫn ở bên trong vùng chậu. Ung thư đã từng không di căn tới các cơ quan không không khác của cơ thể. thời kỳ này có thể được chia thành các nhóm nhỏ hơn để mô tả ung thư chi tiết hơn.

thời kỳ IIA

u bướu giới hạn ở 2/3 trên của bộ phận sinh dục nữ, chưa lan tới mô cùng với cổ tử cung.

  • thời kỳ IIA1: u bướu rộng dưới 4cm.
  • thời kỳ IIA2: u bướu có chiều rộng từ 4cm trở lên.

thời kỳ IIB

u bướu đã từng lan tới vùng tham số. u bướu không tới thành chậu.

Ung thư cổ tử cung thời kỳ III

u bướu mối quan hệ tới 1/3 dưới của bộ phận sinh dục nữ và/hoặc đã từng lan tới thành chậu; gây nên sưng thận, được gọi là thận ứ nước; ngăn thận vận động; và/hoặc mối quan hệ tới các hạch bạch huyết khu vực. Các hạch bạch huyết là những cơ quan nhỏ hình hạt đậu giúp cho phòng chống nhiễm trùng; không có sự lây truyền lan xa. (3)

thời kỳ IIIA

u bướu mối quan hệ tới 1/3 dưới của bộ phận sinh dục nữ tuy vậy nó chưa tiến triển vào thành chậu.

thời kỳ IIIB 

u bướu đã từng tiến triển vào thành chậu và/hoặc tác động tới thận.

thời kỳ IIIC

u bướu mối quan hệ tới các hạch bạch huyết khu vực. Điều này có thể được phát hiện bằng cách sử dụng các chẩn đoán hình ảnh hoặc căn bệnh lý. Thêm chữ “r” viết thường cho thấy các xét nghiệm hình ảnh đã từng được sử dụng để xác nhận sự mối quan hệ của hạch bạch huyết. Chữ “p” viết thường cho thấy kết quả căn bệnh lý được sử dụng để xác định thời kỳ.

  • thời kỳ IIIC1: Ung thư đã từng lan tới các hạch bạch huyết trong xương chậu.
  • thời kỳ IIIC2: Ung thư đã từng lan tới các hạch bạch huyết cạnh động mạch chủ. Các hạch bạch huyết này được tìm xuất hiện ở vùng bụng gần đáy cột sống và gần động mạch chủ, một động mạch chủ yếu chạy từ tim tới ổ bụng.

Ung thư cổ tử cung thời kỳ IV

thời kỳ IVA

Ung thư đã từng lan tới bọng đái hoặc trực tràng, tuy vậy chưa lan tới các cơ quan không không khác của cơ thể.

thời kỳ IVB

Ung thư đã từng di căn tới các cơ quan không không khác của cơ thể.

các giai đoạn ung thư cổ tử cung

Có 4 thời kỳ ung thư cổ tử cung, thời kỳ càng cao tình trạng càng nghiêm trọng.

Ung thư cổ tử cung tái phát

Ung thư tái phát là ung thư đã từng trở lại sau khi điều trị. Ung thư cổ tử cung có thể xuất hiện trở lại trong khung chậu nơi nó bắt đầu hoặc lan sang các khu vực không không khác trên khắp cơ thể, ví dụ như phổi, hạch bạch huyết và xương. 

Nếu ung thư tái phát, sẽ có một đợt chẩn đoán hình ảnh không không khác để tìm hiểu về tình trạng tái phát. Những chẩn đoán này thường tương tự như những kiểm tra được thực hiện tại thời điểm chẩn đoán trước hết.

Các triệu chứng ung thư cổ tử cung trong các thời kỳ 

Các triệu chứng của ung thư cổ tử cung thời kỳ đầu có thể gồm có:

  • Ra máu thất thường hoặc ra máu nhẹ giữa các kỳ kinh ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh sản.
  • Xuất huyết bộ phận sinh dục nữ hoặc ra máu sau mãn kinh.
  • thấy máu sau khi quan hệ tình dục.
  • Tăng tiết huyết trắng, thỉnh thoảng có mùi hôi.

Khi ung thư cổ tử cung tiến triển, các triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể xuất hiện gồm có:

  • đau đớn vùng eo lưng, chân hoặc vùng chậu dai dẳng.
  • Sụt cân, mệt mỏi, chán ăn.
  • Tiết dịch có mùi hôi và không dễ chịu ở bộ phận sinh dục nữ.
  • Sưng chân hoặc cả hai chi dưới.

Các triệu chứng nghiêm trọng không không khác có thể phát sinh ở thời kỳ tiến triển tùy thuộc vào cơ quan mà ung thư đã từng di căn.

Tỉ lệ sống sau 5 năm của từng thời kỳ ung thư cổ tử cung

Có hai cách tính tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư cổ tử cung. Thứ nhất là dựa vào tình trạng di căn của tế bào ung thư và thứ hai là dựa vào thời kỳ ung thư.

Tỷ lệ sống theo tình trạng di căn của các tế bào ung thư

Dựa vào thông tin từ khu vực dữ liệu SEER do Viện Ung thư Quốc gia (NCI) giữ, Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ đã từng mang tới số liệu thống kê về nguy cơ sống sót của các loại ung thư không không khác nhau, trong số đó có ung thư cổ tử cung.

khu vực dữ liệu SEER theo dõi tỷ lệ sống sót tương đối trong 5 năm với ung thư cổ tử cung ở Hoa Kỳ, dựa trên tình trạng di căn của ung thư. Theo đó, SEER phân nhóm ung thư cổ tử cung thành các thời kỳ khu trú, tại chỗ tại vùng và di căn xa. Tỷ lệ sống sót trung bình của ung thư cổ tử cung là 66%.

Tỷ lệ sống sót theo tình trạng di căn của các tế bào ung thư như sau: (4)

  • Khu trú: thời kỳ này không có dấu hiệu cho xuất hiện ung thư đã từng lan ra ngoài cổ tử cung hoặc tử cung. Tỷ lệ sống sót là 92%.
  • Tại chỗ tại vùng: Ung thư đã từng lan ra ngoài cổ tử cung và tử cung tới các hạch bạch huyết gần đó. Tỷ lệ sống sót là 58%
  • Di căn xa: Ung thư đã từng lan tới các cơ quan lân cận (như bọng đái hoặc trực tràng) hoặc các cơ quan xa của cơ thể như phổi hoặc xương. Tỷ lệ sống sót là 18%.

Tỷ lệ sống sót theo thời kỳ ung thư cổ tử cung

  • Giai đoạn 1: tầm 95% sẽ sống sót sau khi phát hiện căn bệnh ung thư trong 5 năm hoặc hơn sau khi được chẩn đoán.
  • thời kỳ 2: Gần 70% sẽ sống sót sau khi phát hiện căn bệnh ung thư của họ trong 5 năm hoặc hơn sau khi chẩn đoán.
  • thời kỳ 3: Hơn 40% sẽ sống sót sau khi mắc căn bệnh ung thư từ 5 năm trở lên sau khi được chẩn đoán.
  • thời kỳ 4: tầm 15% sẽ sống sót sau khi mắc căn bệnh ung thư từ 5 năm trở lên sau khi được chẩn đoán.

Các phương pháp chẩn đoán thời kỳ ung thư cổ tử cung

Nếu sinh thiết cho xuất hiện có ung thư, bác sĩ có thể yêu cầu những chẩn đoán hình ảnh nhất định để xem liệu ung thư đã từng lan rộng thường hay chưa. 

Các chẩn đoán hình ảnh, phản hồi thời kỳ ung thư cổ tử cung gồm có:

Soi bọng đái, soi tử cung và thăm khám dưới gây nên mê

Phương pháp này thường được thực hiện ở những phụ nữ có u bướu lớn và không nên thiết với ung thư được phát hiện sớm.

Trong nội soi bọng đái, một ống soi nhỏ có thấu kính và đèn chiếu sáng được đặt vào bọng đái qua niệu đạo. Điều này cho phép bác sĩ kiểm tra bọng đái và niệu đạo của người căn bệnh để xem liệu ung thư có tiến triển vào những khu vực này thường hay không?. Các mẫu sinh thiết có thể được lấy ra trong quá trình soi bọng đái và kiểm tra trong phòng thí nghiệm. Nội soi bọng đái có thể được thực hiện dưới gây nên tê tại chỗ, song những người mắc căn bệnh có thể nên gây nên mê toàn thân. 

Nội soi trực tràng là một cuộc kiểm tra trực tràng qua một ống chiếu sáng để tìm sự lây truyền lan của ung thư cổ tử cung vào trực tràng của người căn bệnh.

Bác sĩ cũng có thể thăm khám phụ khoa trong khi người mắc căn bệnh đang được gây nên mê để tìm xem liệu ung thư đã từng lan ra ngoài cổ tử cung thường hay chưa.

Chẩn đoán hình ảnh

Các kiểm tra này có thể cho thấy liệu ung thư đã từng di căn thường hay chưa, từ đó giúp cho bác sĩ có thể quyết định kế hoạch điều trị.

X-quang ngực

Chụp X-quang ngực để xem liệu ung thư đã từng di căn tới phổi thường hay chưa.

chẩn đoán giai đoạn ung thư cổ tử cung

Chụp X-quang ngực giúp cho kiểm tra tình trạng di căn của ung thư cổ tử cung.

Chụp cắt lớp vi tính (CT)

Chụp CT thường được thực hiện nếu u bướu lớn hơn hoặc nếu có lo ngại về sự lây truyền lan của ung thư. 

Chụp cộng hưởng từ (MRI)

Chụp MRI xem xét các phần mô mềm của cơ thể cho hình ảnh hiển thị tốt hơn các chẩn đoán hình ảnh không không khác. Bác sĩ sẽ quyết định chẩn đoán hình ảnh nào là tốt nhất để dùng trong trường hợp của người mắc căn bệnh.

Chụp cắt lớp phát xạ Positron (quét PET)

với chụp PET, một loại đường phóng xạ nhẹ (FDG) được tiêm vào máu và chủ yếu thu thập trong các tế bào ung thư.

Thông thường chụp PET được phối hợp với chụp CT bằng một máy đặc biệt có thể thực hiện cả hai cùng một lúc (chụp PET/CT). Điều này cho phép bác sĩ so sánh các khu vực có hoạt độ phóng xạ cao hơn trên chụp PET phối hợp với hình ảnh trên chụp CT giúp cho phản hồi tình trạng di căn của căn bệnh, đặc biệt với ca căn bệnh nghi ngờ di căn trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh không không khác. Đây là loại hình chụp PET thường được sử dụng nhất ở người mắc căn bệnh ung thư cổ tử cung.

Chụp niệu đồ tĩnh mạch

Chụp niệu đồ tĩnh mạch (còn được gọi là hình ảnh chụp đường tĩnh mạch, hoặc IVP) là một hình chụp X-quang của hệ tiết niệu được thực hiện sau khi một loại thuốc cản quang đặc biệt được tiêm vào tĩnh mạch. 

Xét nghiệm này có thể tìm xuất hiện trong đường tiết niệu do sự lây truyền lan của ung thư cổ tử cung. Phát hiện thường thấy nhất là ung thư đã từng tiến hành tắc nghẽn niệu quản (ống nối thận với bọng đái). Hiện nay kỹ thuật IVP ít được sử dụng do hình ảnh mà CT và MRI mang lại đã từng giúp cho cho bác sĩ phản hồi được các thất thường trong đường niệu.

HỆ THỐNG trung tâm y tế ĐA KHOA Hưng Thịnh

Xác định thời kỳ ung thư cổ tử cung là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định cách điều trị ung thư và xác định tình trạng thành tựu của việc điều trị. Ở Việt Nam, việc điều trị ung thư chủ yếu tuân thủ chỉ định của bác sĩ chứ không phải người mắc căn bệnh lựa chọn lựa. Tuy nhiên, nếu người mắc căn bệnh có hiểu biết về thời kỳ ung thư cổ tử cung mình đang mắc phải sẽ giúp cho chủ động hơn trong việc tiếp nhận các phương pháp điều trị, ví dụ như tiến hành thế nào để hạn chế tác dụng phụ của điều trị hoặc chủ động trong việc quan sát, ghi lại các triệu chứng mắc phải. Điều này sẽ hỗ trợ bác sĩ rất nhiều trong việc tìm ra giải pháp cá thể hóa, nâng cao tốt nhất điều trị.

Rate this post

Share this post:

Bài viết liên quan

Leave a Comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.