Viễn thị – Báo VnExpress Sức khỏe

Viễn thị xảy ra khi nhãn cầu (thủy tinh thể) quá ngắn hoặc giác mạc quá phẳng tiến hành cho nhìn xuất hiện những vật ở xa tốt hơn ở cự ly gần.

Tình trạng này có thể tiến triển khi các cơ thị giác yếu đi (trong vòng từ năm 40 tuổi trở đi), một tỷ lệ hiếm là bẩm sinh.

Dấu hiệu

  • Nhận xuất hiện các vật thể ở gần xuất hiện mờ.
  • cần thiết phải nheo mắt hoặc căng mắt để nhìn rõ.
  • Nhức đầu hoặc không dễ chịu xảy ra sau khi đọc hoặc viết lâu dần.
  • Mỏi mắt gây ra bỏng, đau đớn trong hoặc xung quanh mắt.

Nguyên nhân

Hai phần của mắt giúp cho cơ thể có thể tập trung khi nhìn sự vật gồm:

  • Giác mạc: Phần trong suốt phía trước của mắt tiếp nhận và tập trung ánh sáng vào mắt.
  • Thủy tinh thể: Một cấu trúc trong suốt bên trong mắt giúp cho tập trung các tia sáng vào võng mạc.

Võng mạc là một lớp dây thần kinh ở phía sau mắt, có tác dụng phát hiện ánh sáng sau đó gửi các xung động qua dây thần kinh thị giác tới não. Dây thần kinh này chịu trách nhiệm mang các tín hiệu ánh sáng tập trung do võng mạc tạo ra tới não. Bộ não sau đó diễn giải chúng dưới loại hình ảnh.

Viễn thị xảy ra khi ánh sáng không khúc xạ đúng cách. Ánh sáng khi vào mắt sẽ chiếu phía sau võng mạc thế vì vào đúng võng mạc. Điều này tiến hành cho các tia sáng tập trung phía sau võng mạc, gây ra ra tình trạng nhìn rõ không không khác các vật thể ở xa còn ở gần lại mờ.

Trong một vài ít trường hợp, viễn thị có thể xảy ra do:

  • chứng bệnh tiểu đường.
  • u bướu.
  • suy nhược sản điểm vàng – một tình trạng chứng bệnh lý thường ít gặp mối quan hệ tới sự kém tiến triển của điểm vàng, một vùng nhỏ trên võng mạc.

Chẩn đoán

Bác sĩ nhãn khoa sẽ tiến hành đo thị lực để phản hồi và chẩn đoán các vấn đề thường gặp về mắt.

Người ở lứa tuổi 40 nên đi thăm khám mắt nếu gặp bất kỳ triệu chứng nào nghi ngờ viễn thị. Trẻ nhỏ cũng cần thiết phải được kiểm tra thị lực ở các thời kỳ sau:

  • Lúc mới sinh.
  • Một tuổi.
  • trong vòng 5 tuổi.

Điều trị

toàn bộ tình trạng về mắt đều có thể điều trị thành quả, nguy cơ xảy ra các hậu quả nặng hơn nếu không được điều trị.

Các liệu pháp điển hình gồm:

Thấu kính hiệu chỉnh

toàn bộ người trẻ tuổi mắc chứng viễn thị không cần thiết phải kính điều chỉnh vì họ có thể bù lại bằng cách tập trung vào các vật ở gần hơn. Tuy nhiên, tới năm tuổi 40, thủy tinh thể kém linh hoạt hơn, người chứng bệnh cần thiết phải dùng tới thấu kính điều chỉnh.

Có hai loại thấu kính hiệu chỉnh chủ yếu:

  • Kính mắt: Gồm kính hai tròng, kính ba tròng và kính đọc tiêu chuẩn.
  • Kính áp tròng: Có nhiều loại kính áp tròng không không khác nhau, với tình trạng mềm mại và thời gian đeo dự định không không khác nhau.

tiểu phẫu khúc xạ

  • Phương pháp LASIK: Dùng tia laser hoặc microkeratome định hình lại trung tâm giác mạc thành một mái vòm dốc hơn để tiếp nhận ánh sáng.
  • LASEK: Dùng tia laser định hình lại các cạnh ngoài của giác mạc để có độ cong phù hợp.
  • tiểu phẫu cắt giác mạc bằng quang học (PRK): Loại bỏ lớp ngoài của giác mạc và thực hiện một quy trình tương tự LASEK. Lớp bên ngoài sau đó sẽ mọc trở lại sau trong vòng 10 ngày.

tiểu phẫu laser có thể không phù hợp với những người:

  • Có đơn thuốc điều chỉnh ống kính liên tục thế đổi.
  • Mắc chứng bệnh tiểu đường.
  • Đang mang thai hoặc cho con bú.
  • Có hệ thống miễn dịch suy yếu.
  • Gặp các vấn đề về mắt không không khác, ví dụ như chứng bệnh tăng nhãn áp hoặc đục thủy tinh thể.

hậu quả

Người lớn thường không mắc phải hậu quả do viễn thị. một vài trẻ có thể gặp các vấn đề như:

  • Mắt lười (nhược thị).
  • Mắt không thẳng hàng (lác).
  • Sự trễ trễ trong tiến triển thị giác.
  • Vấn đề học tập.

Bảo Bảo (Theo Medical News Today, WebMD)



Share this post:

Bài viết liên quan

Leave a Comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.