Quy trình và rủi ro cần phải lưu ý

tiểu phẫu tim hở vốn phức tạp do đó gây nên mê tiểu phẫu tim mạch đóng vai trò như một mắt xích quan trọng, đòi hỏi hệ thống bác sĩ gây nên mê  có trình độ cao, chuyên sâu, cùng hệ thống máy móc thiết mắc phải hỗ trợ tiên tiến để kiểm soát tốt chứng năng tim trước, trong và sau tiểu phẫu.

gây mê phẫu thuật tim mạch

gây nên mê tiểu phẫu tim mạch là như thế nào?

gây nên mê tiểu phẫu tim mạch là gây nên mê toàn thân cân bằng qua đường tĩnh mạch. Mục đích giữ gìn cho người chứng bệnh đi vào cơn mê nhẹ nhàng, không cảm xuất hiện đau đớn đớn, sợ hãi, tối ưu hóa công dụng tim, quản lý nhịp tim, huyết động nhằm giữ an toàn trong suốt cuộc tiểu phẫu. (1)

gây nên mê tiểu phẫu tim mạch không tương tự với thủ thuật gây nên mê toàn thân trên người chứng bệnh tiểu phẫu ngoài tim, vì đây là tiểu phẫu có nguy cơ cao, nó có thể gây nên nhiều tác động trên công dụng tim mạch, thậm chí có thể ngưng tim trong thì dẫn mê.

Điều này đòi hỏi người bác sĩ gây nên mê phải am hiểu về từng loại chứng bệnh học tim mạch không tương tự nhau để đưa ra kế hoạch gây nên mê cụ thể cho từng loại chứng bệnh lý. Từ đó, góp phần đưa tới sự thành tựu trong cuộc tiểu phẫu.

Ngày nay, với sự tiến bộ vượt bậc của y học thế giới trong tất cả lĩnh vực, gây nên mê hồi sức mổ tim cũng lấy tất cả những kỹ thuật tiên tiến tiên tiến nhất nhằm giúp cho người chứng bệnh triệt tiêu tất cả các cơn đau đớn mà không để lại các tác hại và hậu quả của nó, từ đó giúp cho người chứng bệnh có thể vận động sớm và nhanh chóng khôi phục, xuất viện, tiết kiệm phí và nâng cao tin cậy cuộc sống.

trong số đó, kỹ thuật gây nên tê suy nhược đau đớn bằng catheter qua mặt phẳng cơ dựng sống đã từng có được những ưu thế vượt trội trong lĩnh vực chuyên khoa tiểu phẫu tim hở so với các kỹ thuật gây nên tê vùng không tương tự như gây nên tê ngoài màng cứng đoạn ngực thường gây nên tê cơ ngực lớn, cơ răng cưa, và thậm chí nói cả gây nên tê thấm qua vết mổ.

Có mấy phương pháp suy nhược đau đớn trong tiểu phẫu tim hở?

Trong lịch sử tiểu phẫu tim hở, người ta có các phương pháp suy nhược đau đớn như sau:

  • suy nhược đau đớn đơn thuần bằng morphin truyền tĩnh mạch: phương pháp này hiện tại không còn được thế giới ưa chuộng do các phiền nạn mà nó gây nên nên: tình trạng lệ thuộc dưỡng chất gây nên nghiện, đau đớn mạn tính, bí tiểu, suy hô hấp, buồn nôn, ngứa ngáy…
  • suy nhược đau đớn đa mô thức đường tĩnh mạch: là truyền phối hợp các loại suy nhược đau đớn qua đường tĩnh mạch gồm có cả morphin và các dẫn xuất của nó, nhằm suy nhược đau đớn tốt hơn và hạn chế được tác dụng phụ của morphin liều cao.
  • suy nhược đau đớn bằng sự phối hợp gây nên tê vùng như gây nên tê cơ ngực lớn, gây nên tê cơ răng cưa, gây nên tê ngoài màng cứng đoạn ngực, nói cả gây nên tê thấm vết mổ…với thuốc suy nhược đau đớn tĩnh mạch morphin. Tất cả các phối hợp này nhằm suy nhược liều morphin và đạt tình trạng suy nhược đau đớn tới tối đa nhất cho người chứng bệnh.
  • suy nhược đau đớn đơn thuần bằng catheter ESP (gây nên tê mặt phẳng cơ dựng sống) phối hợp với thuốc suy nhược đau đớn tĩnh mạch KHÔNG Morphin, phương pháp này nhằm giúp cho người chứng bệnh tránh được việc phụ thuộc thuốc gây nên nghiện và tránh các tác hại, phiền nạn của nó.

gây nên tê mặt phẳng cơ dựng sống ESP trong tiểu phẫu tim hở là như thế nào? 

Đây là một phương pháp gây nên tê suy nhược đau đớn vùng rất an toàn, thế thế hoàn toàn nhóm thuốc suy nhược đau đớn morphin trong mổ tim hở và các tiểu phẫu lồng ngực ở người lớn và trẻ nhỏ.

Người chứng bệnh sẽ được đặt hai ống thông (catheter) vào lớp cân cơ dựng sống nằm ở hai bên cột sống, để Sau đó thông qua các catheter này, thuốc tê suy nhược đau đớn sẽ được cài đặt liều số lượng và nồng độ thích hợp với mỗi người chứng bệnh nhằm mục đích cuối cùng là ngăn chặn hoàn toàn các tín hiệu đau đớn trước khi nó được truyền tới cột sống, não bộ.

Thạc sĩ bác sĩ CKII Hồ Thị Xuân Nga, khoa gây nên mê hồi sức, phòng kiểm tra Đa khoa Hưng Thịnh TP.HCM là người đầu tiên trên thế giới ứng dụng kỹ thuật gây nên tê ESP trong mổ tim không đau đớn này.

Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống ESP trong phẫu thuật tim hở trẻ em.

gây nên tê mặt phẳng cơ dựng sống ESP trong tiểu phẫu tim hở trẻ nhỏ.

Quy trình gây nên mê tiểu phẫu cho người chứng bệnh tim mạch

1. Tiền mê: 

người chứng bệnh sẽ được tiền mê vào 2 thời điểm: (2)

  • Đêm trước ngày tiểu phẫu và 2 giờ trước khi vào phòng mổ.
  • Cho người chứng bệnh dùng thuốc ngủ hoặc thuốc đối kháng histamine nhóm H1 để suy nhược lo âu, hoang mang, suy nhược tiết và chống nôn ( thông thường sử dụng Atarax cho trẻ nhỏ từ 30 tháng tuổi trở lên và Midazolam cho trẻ sơ sinh đường uống).
  • 60 – 90 phút sau khi uống thuốc tiền mê,  chuyển người chứng bệnh vào phòng mổ.
  • người chứng bệnh ổn định tâm lý và được đặt các thiết mắc phải theo dõi như: điện tim, huyết áp, SPO2, theo dõi độ dãn cơ, theo dõi độ mê, theo dõi nồng độ oxy não, đường truyền tĩnh mạch ngoại vi với kim luồn cỡ lớn…trước khi tiến hành khởi mê.
công cụ hỗ trợ

gây nên mê tim cần phải sự hỗ trợ từ nhiều máy móc tiên tiến.

2. Khởi mê: 

  • Bác sĩ sử dụng các thuốc gây nên mê tĩnh mạch trong tiểu phẫu tim gồm có: nhóm thuốc suy nhược đau đớn có nguồn gốc opioids (như fentanyl hoặc sufentanil) nhóm thuốc ngủ an thần (benzodiazepine hoặc propofol hoặc etomidate, ketamine), thuốc mê hô hấp, và nhóm thuốc giãn cơ (vecuronium hoặc cisatracurium hoặc rocuronium). Lựa lựa chọn thuốc mê cần phải dựa trên tình trạng chứng bệnh lý của từng người chứng bệnh, lứa tuổi, chứng bệnh nền đi kèm…
  • Sau khi người chứng bệnh đạt được độ mê an toàn, người chứng bệnh sẽ được đặt ống thở vào khí quản, giúp cho kiểm soát hơi thở, đem lại khí gây nên mê, giữ cho người chứng bệnh đủ độ mê an toàn để tiểu phẫu mà vẫn giữ ổn định sinh hiệu trong suốt cuộc mổ. người chứng bệnh đồng thời được đặt catheter huyết áp động mạch xâm lấn, catheter tĩnh mạch trung tâm theo dõi huyết động và đầu dò siêu âm tim qua thực quản cũng như catheter ESP trong lúc này.

3. giữ mê: 

  • Tiếp tục giữ các loại thuốc gây nên mê dựa trên các chỉ số đo đạc về độ mê, độ đau đớn và độ giãn cơ cũng như huyết động đủ để ngăn ngừa sự thức tỉnh trong các thì rạch da, cưa xương ức, tuần hoàn ngoài cơ thể, hạ thân nhiệt hoặc tiến hành ấm trở lại, cai máy tuần hoàn ngoài cơ thể, cầm máu, đóng da…

4. Tỉnh mê: 

  • Sau tiểu phẫu người chứng bệnh tiếp tục thở máy và được theo dõi tại phòng hồi sức, khoa ICU ít nhất 2 tiếng để khôi phục an toàn Sau đó mới rút ống thở (nội khí quản).
  • Bác sĩ chỉ định thuốc suy nhược đau đớn qua catheter ESP, thuốc ngủ nhẹ qua đường tĩnh mạch, các thuốc điều trị suy tim, thuốc dự phòng và các dung dịch nuôi dưỡng đường tĩnh mạch sớm.
  • người chứng bệnh dần hồi tỉnh nên có thể nhận hiểu được người thân và tất cả vật xung quanh.
  • Người chứng bệnh sẽ được an thần nhẹ cho tới khi bác sĩ xác nhận đã từng đạt được  các chỉ số an toàn để rút ống thở: không có thấy máu vết mổ, không suy tim nặng hơn: huyết áp ổn định, mức oxy trong máu đạt yêu cầu, tiểu tốt, hết tác dụng thuốc giãn cơ, sự tưới máu các cơ quan đầy đủ, không đau đớn đớn… người chứng bệnh sẽ được cho ngừng hẳn thuốc ngủ và tập thở sau đó để sắp việc cai máy thở.

Thời gian quá trình gây nên mê tiểu phẫu tim là bao lâu?

Thời gian gây nên mê cho một cuộc mổ tim phụ thuộc vào tính dưỡng chất của từng cuộc tiểu phẫu, từng loại chứng bệnh lý và tình trạng nặng nhẹ không tương tự nhau. Thông thường lâu dần từ 2,5 giờ tới 5 giờ. Cá biệt có những chứng bệnh tim bẩm sinh rất nặng, thời gian hỗ trợ máy tuần hoàn ngoài cơ thể có thể lâu dần và vì thế cuộc mổ thỉnh thoảng tới 10-12 giờ tuy nhiên rất ít gặp.

thời gian gây mê phẫu thuật tim là bao lâu

Thời gian gây nên mê tùy vào trường hợp người chứng bệnh, các chứng bệnh lý mắc phải.

Rủi ro tác hại có thể xảy ra

Trong tiểu phẫu tim mạch có thể gặp một vài các rủi ro, tác hại như:

1. Rối loạn nhịp tim sau mổ

  • Rối loạn nhịp nhĩ, rối loạn nhịp thất, mất nhịp hoàn toàn (bloc nhĩ thất hoàn toàn) là tác hại có thể xảy ra sau khi tiểu phẫu tim mạch. tác hại trở nên nguy hiểm hơn khi đi kèm với suy tim sung huyết, tăng áp lực động mạch phổi nặng
  • cần phải phải sử dụng các thuốc vận mạch, thuốc tăng co bóp cơ tim và các thuốc điều trị rối loạn nhịp đường tĩnh mạch để điều trị. Tình trạng nặng nhất, có thể cần phải phải sốc điện hoặc cấy máy tạo nhịp tim vĩnh viễn sau đó.

2. thấy máu sau tiểu phẫu

  • Một trong những tác hại thường xảy ra do tác dụng phụ của thuốc chống đông máu mà người chứng bệnh đã từng dùng trước, trong và sau mổ, hoặc do tình trạng chạy máy tim phổi nhân tạo lâu dần gây nên phá hủy và thiếu hụt các yếu tố đông máu, các chứng bệnh lý di truyền về rối loạn đông máu sẵn có trên người chứng bệnh như Hemophilia, Von- Willebrand.
  • Hoặc do quá trình cầm máu ngoại khoa còn sót lại các mao mạch rất nhỏ gây nên thấy máu. Trong trường hợp này bác sĩ gây nên mê hồi sức cần phải có chiến lược dự trù và truyền máu, các chế phẩm máu, hoặc tiểu phẫu cầm máu lại sớm tránh tiến hành tình trạng chứng bệnh nặng hơn.

3. yếu thận cấp (AKI)

  • Một trong những tác hại có thể dẫn tới nguy cơ tử vong trong tiểu phẫu tim mạch. tác hại này thường xảy ra trên những người chứng bệnh đã từng có tiền sử yếu thận, suy tim nặng trước mổ, trong quá trình dẫn mê hoặc tuần hoàn ngoài cơ thể, lưu số lượng máu tới thận không được đem lại đầy đủ do tụt huyết áp, suy tim.
  • Để suy nhược nguy cơ tiến hành tổn thương thận cấp, cần phải đem lại đầy đủ máu tưới cho thận trong thời gian tiểu phẫu.

4. Nhiễm trùng sau mổ tim

  • tác hại thường xảy ra sau mổ, tác động rất nhiều tới kết quả cuộc mổ và tin cậy cuộc sống cũng như gia tăng phí cho người chứng bệnh nếu cuộc mổ tim có các yếu tố sau: mổ cấp cứu khẩn, tối khẩn, bán khẩn mà chưa kịp kiểm soát các tình trạng viêm nhiễm của chứng bệnh lý tai mũi họng, răng hàm mặt thường phổi, toàn thân trước đó.
  • Trong các tiểu phẫu tim hở chương trình, tác hại này ít hơn, phụ thuộc vào thời gian chạy máy tim phổi, thời gian thở máy, số lượng máu và chế phẩm máu truyền vào, sự chăm sóc hậu phẫu, cơ địa và các chứng bệnh nền kèm theo của người chứng bệnh như tiểu đường, yếu thận mạn, ung thư, suy suy nhược miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải… các loại nhiễm trùng gồm có:
    • Nhiễm trùng huyết toàn thân, nhiễm trùng tiểu
    • Nhiễm trùng catheter, các đường truyền
    • Nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng xương ức, nhiễm trùng trung thất…

5. Viêm phổi do thở máy

  • Một tác hại nguy hiểm trong tiểu phẫu tim mạch. Có nhiều yếu tố mối liên quan tới tác hại tổn thương phổi có thể do động tác đặt nội khí quản, chế độ máy thở không cài đặt thích hợp, quá trình chăm sóc hút đàm nhớt, quá trình tuần hoàn ngoài cơ thể lâu dần gây nên xáo trộn nội môi hoặc các nhiễm trùng tiềm ẩn trước đó chưa kiểm soát.

6. Suy đa cơ quan sau mổ tim

  • tác hại ít gặp, xảy ra trên các cơ địa đã từng có sẵn suy tim nặng trước mổ. Người chứng bệnh sau mổ có thể kèm suy tim với yếu thận hoặc suy gan, nhiễm trùng nặng cần phải sự hỗ trợ của các thiết mắc phải lọc máu, thế huyết tương, thậm chí các thiết mắc phải hỗ trợ suy tuần hoàn như bóng đối xung nội động mạch chủ hoặc thiết mắc phải hỗ trợ thất trái như ECMO, LVAD… khi mắc phải các tác hại này, tỷ lệ tử vong tăng rất cao.

7. Loạn thần sau mổ

  • Một trong những tác hại có thể xảy ra với người chứng bệnh tiểu phẫu tim mạch. trường hợp thường là người chứng bệnh trên 70 tuổi, tiền sử có sử dụng thuốc ngủ và suy nhược đau đớn nhóm morphin, ketamine, chứng bệnh mao mạch não và nhồi máu não, người chứng bệnh mắc phải thức tỉnh trong quá trình gây nên mê do không kiểm soát tốt độ mê, người chứng bệnh phải nằm lại hồi sức lâu ngày vì tình trạng suy tim nặng…
  • Trên những trường hợp này, việc lựa chọn lựa gây nên tê ESP suy nhược đau đớn giúp cho người chứng bệnh không sử dụng nhóm opioids sẽ suy nhược được nguy cơ này

cần phải sắp gì trước và sau khi gây nên mê tiểu phẫu tim

1. Lưu ý trước khi gây nên mê tiểu phẫu: 

  • Bác sĩ gây nên mê cần phải nắm rõ tình trạng sức khỏe của người chứng bệnh thông qua thăm kiểm tra tiền mê một hoặc nhiều lần để điều chỉnh tất cả các rối loạn điện giải nếu có do quá trình điều trị suy tim trước đó, đồng thời xem xét kỹ hồ sơ chứng bệnh án, xét nghiệm và tiến hành các chẩn đoán cần phải thiết.
  • Từ đó đưa ra quy trình sử dụng thuốc gây nên mê phù hợp, tránh các tình trạng xấu do phối hợp hoặc sử dụng sai thuốc trong tiểu phẫu. Ngoài ra, bác sĩ gây nên mê cần phải tiên số lượng được những trường hợp xấu có thể xảy ra để lên kế hoạch xử lý sớm và an toàn.

2. Lưu ý sau khi gây nên mê tiểu phẫu: 

  • Sau mổ người chứng bệnh cần phải được chăm sóc và theo dõi chu đáo. suy nhược đau đớn sau mổ để kiểm soát cơn đau đớn tốt, tránh tình trạng  tăng huyết áp, mạch nhanh, gây nên loạn nhịp tim do đau đớn. Theo dõi tất cả thông số sinh hiệu và huyết động, khi nghi ngờ không thường thì cần phải chẩn đoán và điều trị sớm.
  • cần phải khuyến khích người chứng bệnh vận động sớm ngay sau khi rút ống nội khí quản và khi về phòng chứng bệnh, vật lý trị liệu hô hấp và vận động cũng như chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng người chứng bệnh trong quá trình khôi phục là một điểm không thể thiếu được trong quy trình mổ tim ở tất cả các phòng kiểm tra tiên tiến ngày nay.

khôi phục và chăm sóc người chứng bệnh sau gây nên mê tiểu phẫu

người chứng bệnh sau khi tiểu phẫu cần phải được nằm theo dõi tại phòng hồi sức từ 1-3 ngày và sau đó theo dõi tiếp tại phòng chứng bệnh từ 3-5 ngày trước khi xuất viện tùy tình trạng chứng bệnh lý và chứng bệnh nền kèm theo.

Các thủ thuật chăm sóc vết mổ, đường hô hấp và đường truyền cần phải được vô khuẩn tuyệt đối. Ngoài ra vận động sớm, vật lý trị liệu và dinh dưỡng thích hợp sẽ giúp cho người chứng bệnh nhanh chóng phục hồi và nhanh chóng xuất viện hơn.

HỆ THỐNG phòng kiểm tra ĐA KHOA Hưng Thịnh

gây nên mê tiểu phẫu tim mạch là kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng, quyết định sự sống còn của người chứng bệnh. Một cuộc tiểu phẫu tim hở  thành tựu đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều chuyên khoa riêng lẻ trước, trong và sau mổ như nội tim mạch, ngoại tim mạch, gây nên mê, hồi sức tim, vật lý trị liệu, dinh dưỡng và kiểm soát nhiễm khuẩn thích hợp.

Rate this post

Share this post:

Bài viết liên quan

Leave a Comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.